Wikia Kimesu no Yaiba
Advertisement

Hơi Thở của Mặt Trời (日の呼吸 Hi no kokyũ)

Thượng Huyền Nhất tiết lộ (trong hồi ức của hắn) người sáng tạo ra Hơi thở Khởi Nguyên là Tsugikuni Yoriichi - em trai song sinh của hắn (chap 177 chương Vô Hạn Thành).

Hơi Thở Khởi Nguyên được sáng tạo ra bởi Yoriichi Tsugikuni - một kiếm sĩ huyền thoại trong Sát Quỷ Đoàn 500 năm trước. Hơi Thở Khởi Nguyên được biết đến với tên gọi cụ thể chính là Hơi Thở của Mặt Trời - tiền thân của Hỏa Thần Lạc Vũ (Điệu múa tế Hỏa Thần) của nhà Kamado. Hơi Thở của Mặt Trời bao gồm 13 thế kiếm, các thế kiếm tạo nên vòng tròn thống nhất và liên kết lại với nhau tạo nên thế kiếm mạnh nhất là thế thứ 13 (được Tanjiro Kamado sử dụng lần lượt và kết nối với nhau từ Viên Vũ đến Viêm Vũ trong trận chiến với chúa quỷ Kibitsuji Muzan trong chap 192).

13 thế kiếm của Hơi Thở của Mặt Trời[]

  • Thức thứ nhất: Viên Vũ (bản gốc Nhật: 壱ノ型 円舞) dịch nghĩa: điệu múa vòng tròn/điệu múa vẹn toàn (xuất hiện trong chap 40) (cách dịch khác Điệu Waltz): Tung ra một nhát chém cực mạnh.
  • Thức thứ hai: Bích La Thiên (bản gốc Nhật: 弐ノ型 碧羅の天) dịch nghĩa: màu xanh bao phủ lấy bầu trời (xuất hiện trong chap 61): Xoay cơ thể theo chiều ngang để tạo ra một nhát chém 360 độ.
  • Thức thứ ba: Liệt Nhật Hồng Kính (bản gốc Nhật: 参ノ型 烈日紅鏡) dịch nghĩa: tấm gương đỏ rực tựa như mặt trời ( xuất hiện trong chap 77): Tung ra hai nhát chém ngang để tấn công hoặc phòng thủ.
  • Thức thứ tư: Chước Cốt Viêm Dương (bản gốc Nhật: 肆ノ型 灼骨炎陽) dịch nghĩa: ngọn lửa của mặt trời thiêu đốt đến tận xương (xuất hiện trong chap 106): Tung ra một nhát chém hình tròn lớn để đỡ các đòn tấn công trực diện.
  • Thức thứ năm: Dương Hoa Đột (bản gốc Nhật: 伍ノ型 陽華突) dịch nghĩa: nhát đâm tựa như vầng hào quang của Mặt Trời (xuất hiện trong chap 106): Tung ra một đòn đâm bằng mũi kiếm.
  • Thức thứ sáu: Nhật Vận Chi Long • Đầu Vũ (bản gốc Nhật: 陸ノ型 日暈の龍 • 頭舞い) dịch nghĩa: con rồng chuyển mình như Mặt Trời - điệu múa đầu ( xuất hiện chap 106): Người thi triển tung ra một nhát chém dài uốn lượn, nhanh và mạnh, giống hình dáng của một con rồng (phương Đông) làm từ những ngọn lửa Mặt Trời.
  • Thức thứ bảy: Tà Dương Chuyển Thân (bản gốc Nhật: 漆ノ型 斜陽転身) dịch nghĩa: mặt trời xế chiều chuyển mình (xuất hiện đầu tiên trong chap 152): Người thi triển lộn ngược trên không và tung ra một nhát chém nhắm vào cổ của mục tiêu.
  • Thức thứ tám: Phi Luân Dương Viêm (bản gốc Nhật: 捌ノ型 飛輪陽炎) dịch nghĩa: ngọn lửa Mặt Trời bay lượn vòng (xuất hiện trong chap 149): Người thi triển tiếp cận mục tiêu, tung ra một nhát chém mờ ảo trông như không trúng đích.
  • Thức thứ chín: Huy Huy Ân Quang (bản gốc Nhật: 玖ノ型 輝輝恩光) dịch nghĩa: ánh sáng ân huệ tỏa sáng rực (xuất hiện trong chap 191): Người thi triển nhảy lên không và tung ra một nhát chém giống như ngọn lửa dội xuống, bao quanh kẻ địch.
  • Thức thứ mười: Hỏa Xa (bản gốc Nhật: 拾ノ型 火車) dịch nghĩa: bánh xe lửa (xuất hiện đầu tiên trong chap 77): Người thi triển tung ra một nhát chém hình tròn bằng cách lộn.
  • Thức thứ mười một: Huyễn Nhật Hồng (bản gốc Nhật: 拾壱ノ型 幻日虹) dịch nghĩa: ảo ảnh cầu vồng (xuất đầu tiên trong chap 77): Người thi triển chuyển động và xoay người cực nhanh để tạo ra dư ảnh của bản thân với mục đích né đòn và đánh lạc hướng kẻ địch. Chiêu thức này cực kì hiệu quả với những kẻ địch có khả năng quan sát tốt.
  • Thức thứ mười hai: Viêm Vũ (bản gốc Nhật: 拾弐ノ型 炎舞) dịch nghĩa: điệu múa của ngọn lửa (xuất hiện đầu tiên trong chap 77) (cách dịch khác Điệu Waltz Hoả): Một đòn tấn công kết hợp bởi hai nhát chém, bắt đầu bằng một nhát chém dọc và một nhát chém ngang ngang ngay sau đó.
  • Thức thứ mười ba (bản gốc Nhật: 拾参ノ型) Thế kiếm thứ 13 tạo ra bằng kết nối mười hai thế kiếm lại với nhau (Viên Vũ đến Viêm Vũ): Thế kiếm này được tạo ra nhằm mục đích giết Muzan Kibutsuji. Mười hai thế kiếm được lặp lại nhằm mục đích phá hủy mười hai cơ quan quan trọng của Muzan (bảy trái tim và năm bộ não) di chuyển tự do bên trong cơ thể của hắn ta.
Người sử dụng
Tsugikuni Yoriichi
Tsugikuni Yoriichi


Thông tin liên quan[]

  • Trong tiếng Kanji, chữ "日" có nghĩa là "Mặt Trời", cùng cách phát âm với "火" có nghĩa là Lửa.
  • Màu sắc đại diện cho Hơi thở của Mặt Trời trên thanh Nhật Luân kiếm là màu đen thuần khiết. Tuy nhiên, do các kiếm sĩ hiếm khi có Nhật Luân Kiếm màu đen nên mọi người cho rằng nó tượng trưng cho sự xui xẻo.
  • Tổ tiên gia tộc Rengoku và Rengoku Shinjurou - cựu Viêm Trụ biết rõ về người kiếm sĩ huyền thoại, Hơi Thở Khởi Nguyên lẫn các thế kiếm của Hơi Thở Khởi Nguyên. Chính vì biết rõ, và hơn nữa cụ tổ nhà Rengoku được nghe từ chính vị kiếm sĩ tạo ra Hơi Thở Khởi Nguyên, kể về việc con người ấy đã sử dụng các thế kiếm trong Hơi Thở của mình - và là người đầu tiên suýt tiêu diệt được chúa quỷ Muzan ra sao đã dẫn đến việc gia tộc Rengoku mất đi sự tự tin của một kiếm sĩ trừ cố Viêm Trụ Rengoku Kyoujurou.
  • Hơi Thở của Mặt Trăng được Thượng Nguyệt Nhất Kokushibou, tức anh trai song sinh của Tsugikuni Yoriichi - Tsugikuni Michikatsu cho biết chính ông đã tạo ra như một bản sao của Hơi Thở của Mặt Trời.
  • Thực hiện mong muốn được chiêm ngưỡng kiếm thuật của Yoriichi của người vợ của Kamado Sumiyoshi - cụ tổ dòng họ Kamado, ông đã thực hiện lại toàn bộ các thế kiếm trong Hơi Thở của Mặt Trời - cũng chính là tiền thân của Hoả Thần Lạc Vũ (Điệu múa tế Hỏa Thần) sau này (chap 191).
  • Hoả Thần Lạc Vũ (Điệu múa tế Hoả Thần) là cái tên được đặt bởi cụ tổ nhà Kamado - Sumiyoshi Kamado lẫn Tanjiro Kamado (chap 191). Các thế kiếm của Hơi Thở của Mặt Trời đẹp đến mức ông đã không thể rời mắt khi chiêm ngưỡng. Nó gần giống như một điệu múa hơn là cách sử dụng kiếm và bản thân Tsugikuni Yoriichi khi thực hiện giống như một Tinh Linh Lửa chứ không phải là một con người.
  • Theo lời Hà Trụ, khi vượt qua giới hạn của người thường, kiếm sĩ sẽ có được Ấn Diệt Quỷ. Hơi Thở của Mặt Trời buộc người sử dụng phải vượt qua giới hạn của bản thân, đó là lí do người sử dụng Hơi Thở của Mặt Trời luôn là người hiện Ấn Diệt Quỷ đầu tiên rồi mới đến những người khác. Ở thời của Yoriichi, ông là người mang dấu ấn và lan truyền nó trong Sát Quỷ Đoàn. Sau này, không còn ai nhắc tới Ấn Diệt Quỷ nữa. Mãi cho tới thời của Tanjirou, cậu là người đầu tiên có được Ấn Diệt Quỷ và đã mang nó quay trở lại.
  • Rất khó để sử dụng Hơi Thở của Mặt Trời do tính khó kiểm soát của nó. Cha của Tanjirou thời gian đầu đã rất khó khăn để nhảy được Hoả Thần Thần Lạc (chap 151). Mỗi lần sử dụng Hoả Thần Thần Lạc, Tanjirou đều cảm thấy khó thở và kiệt sức. Chỉ khi xuất hiện Ấn Diệt Quỷ, cậu mới có thể sử dụng nó lâu hơn để chiến đấu. Kokushibou cũng thừa nhận do không thể sử dụng Hơi Thở của Mặt Trời nên đã tạo ra bản sao dựa trên một phần của nó - chính là Hơi Thở của Mặt Trăng sau này.
  • Ngoài gia đình Kamado, Yoriichi đã truyền lại Hơi Thở của Mặt Trời cho các kiếm sĩ khác. Nhưng sau khi ông mất, Muzan và Kokushibou đã truy lùng và sát hại tất cả bọn họ. Gia đình Kamado đổi tên nó thành Hỏa Thần Lạc Vũ nên mới thoát khỏi sự truy sát của chúng.
Advertisement